Category Archives: THÔNG TIN KHOA HỌC

Những điều cần biết về tuyển sinh đại học năm 2013


Đây là cuốn “Những điều cần biết về kì thi tuyển sinh Đại học – Cao đẳng 2013″

Các em nhấn vào đường dẫn sau để tải về tài liệu cần thiết. Chúc các em có sự lựa chọn sáng suốt nhất và thành công cùng sự lựa chọn đó!

Read the rest of this entry

Nhật Bản tìm ra nguyên tố hóa học thứ 113


Theo Livescience/Tuổi Trẻ
Chuỗi phân rã nguyên tử trong quá trình
chuyển đổi các nguyên tổ hóa học khác,
từ đó các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng
họ đã tìm ra nguyên tố hóa học thứ 113 -
Ảnh: LiveScience
Nhóm nghiên cứu thuộc Viện khoa học RIKEN thuộc Saitama, Nhật Bản vừa cho biết họ đã tìm ra nguyên tố hóa học thứ 113.
Các nhà khoa học cho biết họ tìm ra nguyên tố hóa học thứ 113 bằng cách bắn phá các nguyên tử kẽm trong máy gia tốc hạt. Theo dõi quá trình chuyển đổi của các nguyên tố hóa học khác, cuối cùng các nhà khoa học Nhật Bản đi đến kết luận: tồn tại nguyên tố thứ 113 chưa được biết đến từ trước đến nay.

Ông Kosuke Mortita, giáo sư thuộc Viện RIKEN, cho biết đây là một bước tiến lớn trong ngành khoa học quốc gia. Sau khi được tổ chức khoa học quốc tế công nhận, Nhật Bản sẽ là nước đầu tiên châu Á được quyền đặt tên cho nguyên tố hóa học.

Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học được biết tới gồm các nguyên tố từ 1 đến 94 (từ hydrogen đến plutonium) tồn tại dưới dạng tự nhiên và các nguyên tố từ 95 đến 116 (trừ nguyên tố 113 và 115) là các nguyên tố nhân tạo được tạo thành bởi máy gia tốc hạt.

Bồi dưỡng học sinh giỏi ở một số nước phát triển


Quan niệm về giáo dục HSG

Trên thế giới việc phát hiện và bồi dưỡng HSG đã có từ rất lâu. Ở Trung Quốc, từ đời nhà Đường những trẻ em có tài đặc biệt được mời đến sân Rồng để học tập và được giáo dục bằng những hình thức đặc biệt.

Trong tác phẩm phương Tây, Plato cũng đã nêu lên các hình thức giáo dục (GD) đặc biệt cho HSG. Ở châu Âu trong suốt thời Phục hưng, những người có tài năng về nghệ thuật, kiến trúc, văn học… đều được nhà nước và các tổ chức cá nhân bảo trợ, giúp đỡ.

Nước Mỹ mãi đến thế kỉ 19 mới chú ý tới vấn đề GD học sinh giỏi và tài năng. Đầu tiên là hình thức GD linh hoạt tại trường St. Public Schools Louis 1868 cho phép những HSG học chương trình 6 năm trong vòng 4 năm; sau đó lần lượt là các trường Woburn; Elizabeth; Cambridge…

Và trong suốt thế kỉ XX, HSG đã trở thành một vấn đề của nước Mỹ với hàng loạt các tổ chức và các trung tâm nghiên cứu, bồi dưỡng học sinh giỏi ra đời. Năm 2002 có 38 bang của Hoa Kỳ có đạo luật về giáo dục HSG (Gifted & Talented Student Education Act) trong đó 28 bang có thể đáp ứng đầy đủ cho việc GD học sinh giỏi.

Nước Anh thành lập cả một Viện hàn lâm quốc gia dành cho học sinh giỏi và tài năng trẻ và Hiệp hội quốc gia dành cho học sinh giỏi, bên cạnh Website hướng dẫn GV dạy cho HS giỏi và HS tài năng (http://www.nc.uk.net/gt/).

Từ năm 2001 chính quyền New Zealand đã phê chuẩn kế hoạch phát triển chiến lược HSG. CHLB Đức có Hiệp hội dành cho HSG và tài năng Đức…

Giáo dục Phổ thông Hàn Quốc có một chương trình đặc biệt dành cho HSG nhằm giúp chính quyền phát hiện HS tài năng từ rất sớm. Năm 1994 có khoảng 57/ 174 cơ sở GD ở Hàn Quốc tổ chức chương trình đặc biệt dành cho HSG.

Từ năm 1985, Trung Quốc thừa nhận phải có một chương trình GD đặc biệt dành cho hai loại đối tượng HS yếu kém và HSG, trong đó cho phép các HSG có thể học vượt lớp.

Một trong 15 mục tiêu ưu tiên của Viện quốc gia nghiên cứu giáo dục và đào tạo Ấn Độ là phát hiện và bồi dưỡng HS tài năng…

Nhìn chung các nước đều dùng hai thuật ngữ chính là gift (giỏi, có năng khiếu) và talent (tài năng). Luật bang Georgia (Hoa Kỳ) định nghĩa HSG như sau:

HSG là học sinh chứng minh được trí tuệ ở trình độ cao/và có khả năng sáng tạo, thể hiện một động cơ học tập mãnh liệt/và đạt xuất sắc trong lĩnh vực lý thuyết/khoa học; người cần một sự giáo dục đặc biệt/ và sự phục vụ đặc biệt để đạt được trình độ tương ứng với năng lực của người đó” – (Georgia Law).

Cơ quan GD Hoa Kỳ miêu tả khái niệm “HS giỏi” như sau: Đó là những học sinh có khả năng thể hiện xuất sắc hoặc năng lực nổi trội trong các lĩnh vực trí tuệ, sự sáng tạo, khả năng lãnh đạo, nghệ thuật, hoặc các lĩnh vực lí thuyết chuyên biệt. Những HS này thể hiện tài năng đặc biệt của mình từ tất cả các bình diện xã hội, văn hóa và kinh tế”.

Nhiều nước quan niệm: HSG là những đứa trẻ có năng lực trong các lĩnh vực trí tuệ, sáng tạo, nghệ thuật và năng lực lãnh đạo hoặc lĩnh vực lí thuyết. Những học sinh này cần có sự phục vụ và những hoạt động không theo những điều kiện thông thường của nhà trường nhằm phát triển đầy đủ các năng lực vừa nêu trên.

Có thể nói, hầu như tất cả các nước đều coi trọng vấn đề đào tạo và bồi dưỡng học sinh giỏi trong chiến lược phát triển chương trình GD phổ thông. Nhiều nước ghi riêng thành một mục dành cho HSG, một số nước coi đó là một dạng của giáo dục đặc biệt hoặc chương trình đặc biệt.

Các hình thức giáo dục HSG

Nhiều tài liệu khẳng định: HSG có thể học bằng nhiều cách khác nhau và tốc độ nhanh hơn so với các bạn cùng lớp vì thế cần có một Chương trình HSG để phát triển và đáp ứng được tài năng của họ.

Từ điển bách khoa Wikipedia trong mục Giáo dục HSG (gifted education) nêu lên các hình thức sau đây:

- Lớp riêng biệt (Separate classes): HSG được rèn luyện trong một lớp hoặc một trường học riêng, thường gọi là lớp chuyên, lớp năng khiếu. Nhưng lớp hoặc trường chuyên (độc lập) này có nhiệm vụ hàng đầu là đáp ứng các đòi hỏi cho những HSG về lí thuyết (academically). Hình thức này đòi hỏi ở nhà trường rất nhiều điều kiện ( không dựa vào được các gia đình phụ huynh) từ việc bảo vệ HS, giúp đỡ và đào tạo phát triển chuyên môn cho giáo viên đến việc biên soạn chương trình, bài học…

- Phương pháp Mông-te-xơ-ri (Montessori method): Trong một lớp HS chia thành ba nhóm tuổi, nhà trường mang lại cho HS những cơ hội vượt lên so với các bạn cùng nhóm tuổi. Phương pháp này đòi hỏi phải xây dựng được các mức độ khá tự do, nó hết sức có lợi cho những HSG trong hình thức học tập với tốc độ cao.

- Tăng gia tốc (Acceleration): Những HS xuất sắc xếp vào một lớp có trình độ cao với nhiều tài liệu tương ứng với khả năng của mỗi HS. Một số trường Đại học, Cao đẳng đề nghị hoàn thành chương trình nhanh hơn để HS có thể học bậc học trên sớm hơn. Nhưng hướng tiếp cận giới thiệu HSG với những tài liệu lí thuyết tương ứng với khả năng của chúng cũng dễ làm cho HS xa rời xã hội.

- Học tách rời (Pull-out) một phần thời gian theo lớp HSG, phần còn lại học lớp thường.

- Làm giàu tri thức (Enrichment) toàn bộ thời gian HS học theo lớp bình thường, nhưng nhận tài liệu mở rộng để thử sức, tự học ở nhà.

- Dạy ở nhà (Homeschooling) một nửa thời gian học tại nhà học lớp, nhóm, học có cố vấn (mentor) hoặc một thầy một trò (tutor) và không cần dạy.

- Trường mùa hè (Summer school) bao gồm nhiều course học được tổ chức vào mùa hè.

- Sở thích riêng (Hobby) một số môn thể thao như cờ vua được tổ chức dành để cho HS thử trí tuệ sau giờ học ở trường.

Phần lớn các nước đều chú ý bồi dưỡng HSG từ Tiểu học. Cách tổ chức dạy học cũng rất đa dạng: có nước tổ chức thành lớp, trường riêng… một số nước tổ chức dưới hình thức tự chọn hoặc course học mùa hè, một số nước do các trung tâm tư nhân hoặc các trường đại học đảm nhận…

Tuy vậy, cũng có một số nước không có trường lớp chuyên cho HSG như Nhật Bản và một số bang của Hoa kỳ. Chẳng hạn: Từ 2001, với đạo luật “Không một đứa trẻ nào bị bỏ rơi” (No Child Left Behind) giáo dục HSG ở Georgia về cơ bản bị phá bỏ. Nhiều trường không còn là trường riêng, lớp riêng cho HSG, với tư tưởng các HSG cần có trong các lớp bình thường nhằm giúp các trường lấp lỗ hổng về chất lượng và nhà trường có thể đáp ứng nhu cầu giáo dục HSG thông qua các nhóm và các course học với trình độ cao.

Chính vì thế vấn đề bồi dưỡng HSG đã trở thành vấn đề thời sự gây nhiều tranh luận: “Nhiều nhà GD đề nghị đưa HSG vào các lớp bình thường với nhiều HS có trình độ và khả năng khác nhau, với một phương pháp giáo dục như nhau.

Tuy nhiên nhiều dấu hiệu chứng tỏ rằng giáo viên các lớp bình thường không được đào tạo và giúp đỡ tương xứng với chương trình dạy cho HSG. Nhiều nhà GD cũng cho rằng những HS dân tộc ít người và không có điều kiện kinh tế cũng không tiếp nhận được chương trình giáo dục dành cho HSG. Trong khi quỹ dành cho GD chung là có hạn nên sẽ ảnh hưởng nhiều tới hiệu quả đào tạo tài năng và HS giỏi”.

Mục tiêu dạy học sinh giỏi

Mục tiêu chính của chương trình dành cho HSG và HS tài năng nhìn chung các nước đều khá giống nhau. Có thể nêu lên một số điểm chính sau đây:

- Phát triển phương pháp suy nghĩ ở trình độ cao phù hợp với khả năng trí tuệ của trẻ.

- Bồi dưỡng sự lao động, làm việc sáng tạo

- Phát triển các kĩ năng, phương pháp và thái độ tự học suốt đời

- Nâng cao ý thức và khát vọng của trẻ về sự tự chịu trách nhiệm

- Khuyến khích sự phát triển về lương tâm và ý thức trách nhiệm trong đóng góp xã hội

- Phát triển phẩm chất lãnh đạo.

Theo Đỗ Ngọc Thống

Học sinh giỏi quốc gia được tuyển thẳng vào đại học


Trong kỳ thi đại học, cao đẳng năm 2012, một số khối thi được bổ sung để tạo sự linh hoạt trong xét tuyển. Trường năng khiếu, trọng điểm được tự chủ tuyển sinh.

 Ngày 29/11, Bộ trưởng GD&ĐT Phạm Vũ Luận có chỉ thị về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học năm học 2011- 2012. Công tác tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy có nhiều điểm được đổi mới.

Theo Bộ trưởng, kỳ tuyển sinh 2012 về cơ bản vẫn giữ ổn định theo giải pháp 3 chung, nhưng có một số điều chỉnh. Bộ Giáo dục nghiên cứu bổ sung một số khối thi để đáp ứng tốt hơn yêu cầu kiểm tra năng lực đầu vào của các ngành đào tạo và tạo sự linh hoạt trong xét tuyển của các trường, tăng cơ hội đăng ký dự thi của thí sinh.

Bên cạnh đó, Bộ cũng bổ sung chính sách tuyển thẳng đại học, cao đẳng đối với học sinh đạt giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi quốc gia.

 
Thí sinh trong mùa tuyển sinh 2011. Ảnh: Hoàng Hà.

Trong mùa tuyển sinh tới, Bộ giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường đại học trọng điểm, các trường thuộc khối Năng khiếu – Nghệ thuật. Những trường này chủ động đề xuất phương án tuyển sinh và phải đảm bảo không để tái diễn luyện thi, tổ chức tuyển sinh nghiêm túc và có cơ chế để tập thể nhà trường, xã hội kiểm tra, giám sát.

Không chỉ điều chỉnh trong tuyển sinh, công tác đào tạo trong năm học tới sẽ đổi mới về tổ chức và quản lý theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Bộ sẽ tăng cường kiểm định chất lượng giáo dục và giám sát chuẩn đầu ra. Bộ trưởng nhấn mạnh các cơ sở giáo dục tăng cường đào tạo theo nhu cầu xã hội, dạy kỹ năng mềm, đặc biệt là kỹ năng giao tiếp và Ngoại ngữ cho học sinh, sinh viên.

Hoàng Thùy


Nobel Hóa học 2011


Giải Nobel Hóa học năm nay, theo công bố ngày 6/10/2010 của Viện hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, được trao cho ba nhà khoa học: Richard F. Heck, 79 tuổi, Giáo sư danh dự Đại họcDelaware (Mỹ), Ei-ichi Negishi, 75 tuổi, Giáo sư Đại học Purdue (Mỹ) và Akira Suzuki, 80 tuổi, Giáo sư danh dự Đại học Hokkaido (Nhật Bản) nhờ những công trình nghiên cứu về việc tạo liên kết C-C trong các phản ứng tổng hợp hữu cơ sử dụng xúc tác Palladium.

Theo Ủy ban trao giải, các nghiên cứu của họ đã tạo ra “những phương pháp hiệu quả hơn để tạo liên kết giữa các nguyên tử các-bon nhằm tổng hợp các phân tử hữu cơ phức tạp ứng dụng trong việc cải thiện cuộc sống hàng ngày”.

Hình vẽ dưới đây là một ví dụ về việc tạo liên kết C-C trong hợp chất cơ-nhôm, một trong những thành tựu nghiên cứu của GS. Ei-ichi Negishi:

Với thực tế đa số những hợp chất trong tự nhiên đều là hợp chất hữu cơ, đặc biệt là những hợp chất liên quan đến sự sống, với chuỗi liên kết C-C đóng vai trò quyết định, những nghiên cứu của họ, tập trung vào việc tạo các liên kết C-C mới, có tầm ảnh hưởng quan trọng không chỉ trong học thuật mà còn ở mọi mặt của cuộc sống hàng ngày.

Sơ lược tiểu sử

GS. Richard F. Heck sinh ra ở Springfield, Mỹ, năm 1931. Ông tốt nghiệp cử nhân năm 1952 và tiến sĩ năm 1954, cả hai đều tại trường Đại học California ở Los Angeles. Sau một thời gian làm nghiên cứu hậu tiến sĩ ở Thụy Sĩ và làm việc cho công ty Hercules ở Wilmington, năm 1957, ông chuyển về khoa Hóa Đại học Delaware và giảng dạy ở đó cho đến khi về hưu.

GS. Ei-ichi Negishi sinh năm 1935 tại Trung Quốc, lớn lên ở Nhật Bản và tốt nghiệp cử nhân trường Đại học Tokyo năm 1958. Sau 2 năm làm việc cho công ty hóa chất Teijin, năm 1960 ông nhận được học bổng toàn phần Fulbright- Smith-Mund để đến Đại học Pennsylvania làm nghiên cứu sinh và nhận bằng tiến sĩ tại đây năm 1963. Sau khi trở lại công ty Teijin làm việc một thời gian, ông quyết định đi theo con đường học thuật và gia nhập phòng thí nghiệm của GS. H. C. Brown tại Đại học Purdue với vai trò trợ lý nghiên cứu năm 1966. Năm 1972, ông đến giảng dạy tại Đại học Syracuse. Năm 1976, ông trở lại khoa Hóa Đại học Purdue với vai trò Giáo sư thực thụ và làm việc ở đây từ đó đến nay.

GS. Akira Suzuki sinh năm 1930 ở Hokkaid, Nhật Bản. Sauk hi tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học Hokkaido năm 1959, ông ở lại giảng dạy tại Bộ môn Công nghệ Hóa học năm 1961 và sau đó là Bộ môn Hóa học ứng dụng năm 1973. Ông làm việc tại đây cho đến khi nghỉ hưu năm 1994. Sau đó, ông trở thành giáo sư danh dự của trường này, đồng thời tham gia giảng dạy ở Đại học khoa học Okayama và Đại học Khoa học và Nghệ thuật Kurashiki.

Điều thú vị là sau khi tốt nghiệp tiến sĩ, năm 1963 ông cũng gia nhập phòng thí nghiệm của GS. GS.H. C. Brown tại đại học Purdue. Như thế, ông và GS.Ei-ichi Negishi có thể coi là đồng môn với nhau. Tuy nhiên, do gia nhập phòng thí nghiệm của GS. H. C. Brown vào hai thời điểm khác nhau nên tuy cùng hướng nghiên cứu, nhưng Ei-ichi Negishi và Akira Suzuki tiến hành những nghiên cứu mà sau này mang lại giải thưởng Nobel danh giá khá độc lập với nhau. Nhưng cả hai cùng làm việc với chịu ảnh hưởng của GS. H. C. Brown, người nhận giải Nobel Hóa học năm 1979. Điều này thêm một lần nữa khẳng định, những thành tựu khoa học đỉnh cao không thể ngày một ngày hai đi tắt đón đầu mà có được, mà là một quá trình bồi đắp lâu dài trong môi trường học thuật truyền thống, xuất sắc.

Có lẽ cũng nên nói thêm một điều thú vị nữa là khi được Ủy ban trao giải gọi điện thông báo, GS. Heck đang ở Philipines và cảm thấy “sốc” vì được giải, còn GS. Suzuki thì không nghĩ là mình sẽ được giải. Điều đó cho thấy trong khoa học, giải thưởng không phải là điều quan trọng, mà bản thân hoạt động nghiên cứu mới là thứ đáng quan tâm.

Nghệ thuật trong ống nghiệm

Thành tích nghiên cứu của họ không chỉ được ghi nhận bởi số lượng công trình khoa học lớn, như:GS Heck có 120 bài báo khoa học tính theo thống kê của Web of Science (con số thực tế sẽ lớn hơn), GS. Suzuki có 341 bài báo khoa học (tính đến tháng 4/2008), GS. Ei-ichi Negishi có 375 bài báo và khoảng 30 bài tiểu luận khoa học (tính đến tháng 6/2007), mà còn ở những đóng góp mang tính đột phá mang tên mình như phản ứng Heck, Phản ứng Negishi, phản ứng Suzuki. Theo thông báo của Khoa Hóa Đại học Delaware, đến nay đã có hơn 5600 bài báo khoa học được công bố có liên quan đến phản ứng Heck. Còn GS Ei-ichi Negishi có 17.017 lượt trích dẫn, với hệ số H là 64 (6/2007), đồng thời có hơn 5800 bài báo khoa học đã được công bố có liên quan đến phản ứngNegishi.

Theo thời gian, những công trình nghiên cứu của họ đã trở thành kinh điển đối với cộng đồng Hóa học xúc tác, Tổng hợp hữu cơ, Hóa học các hợp chất cơ kim…Ví dụ: Phản ứng Heck đã được sử dụng để tổng hợp ra vô số các hợp chất hữu cơ khác nhau, trong đó có nhiều hợp chất là nguyên liệu cho ngành công nghiệp dược phẩm. Một biến thể của phản ứng Heck – phản ứng Sonogashira – đóng vai trò quyết định trong việc tổng hợp các chất nhuộm huỳnh quang sử dụng trong các ứng dụng nghiên cứu về nhân bản DNA. Còn GS. Ei-ichi Negishi đã có những đóng góp có ảnh hưởng lớn trong lĩnh vực Tổng hợp hữu cơ, chẳng hạn các phản ứng tạo liên kết C-C sử dụng xúc tác Pd hoặc Ni cho các hợp chất cơ kim chứa Zn, Al và Zr và hàng loạt các phản ứng điển hình khác.

Những nghiên cứu về tổng hợp hữu cơ sử dụng xúc tác Palladium của ba nhà khoa học nói trên được Ủy ban trao giải ví như “nghệ thuật trong ống nghiệm” với ngụ ý: việc sử dụng xúc tác Palladium đã cho phép tạo ra những liên kết C-C mới, hình thành những hợp chất hữu cơ mới với hiệu suất và độ chọn lọc cao, do đó có ý nghĩa lớn không chỉ trong cả khoa học cơ bản mà còn cả trong các ngành công nghiệp.

Bí quyết của “nghệ thuật” này nằm ở chỗ, bằng cách sử dụng Palladium làm chất xúc tác, các nguyên tử cac-bon, thông qua một cơ chế phức tạp, sẽ phản ứng với nhau dễ dàng hơn, trong những điều kiện mềm hơn để tạo liên kết C-C mới, hình thành những hợp chất mới với độ chọn lọc và hiệu suất cao hơn, trong điều kiện phản ứng mềm hơn, so với các phương pháp tổng hợp trước đó.

Những nghiên cứu của họ đã tạo ra những công cụ hữu hiệu trong việc tổng hợp các hợp chất hữu cơ có khối lượng phân tử lớn, cấu trúc phức tạp, ví dụ các hợp chất thiên nhiên, các hợp chất sử dụng làm nguyên liệu trong công nghiệp hóa chất, dược phẩm, chất dẻo, hóa dầu, v.v. Ví dụ: Khoảng 25% lượng nguyên liệu của ngành công nghiệp dược phẩm ngày nay được tổng hợp nhờ những phản ứng của các nhà khoa học này.

Những điều này cho thấy giá trị và ảnh hưởng to lớn của những công trình nghiên cứu của ba nhà khoa học nhận giải Nobel hóa học năm nay đối với sự phát triển của khoa học và công nghiệp. Trước khi nhận được giải Nobel, mỗi người đã nhận được nhiều giải thưởng danh giá cho thành tích khoa học xuất sắc của mình. Giải Nobel vì thế đến với họ là một phần thưởng tất yếu và hoàn toàn xứng đáng, dù rằng khi thời điểm trao giải diễn ra, họ đã “sốc” và “không ngờ tới”.

Giáp Văn Dương


Một số trang và tạp chí có liên quan đến hóa học


1.h2vn.com
2.giasuhanoi.com
3.olympia.net.vn
4.dhsphn.edu.vn
5.danangpt.vnn.vn
6.hssv.vnn.vn
7.tainguyenhoctap.com

Trang web của tổng công ty hóa chất Việt Nam
Trên trang này có những thông tin về ngành công nghiệp hoá chất của nước ta.
http://www.vinachem.com.vn
cũng có mục hóa học và đời sống:
http://www.vinachem.com.vn/ViewTUVAN.asp

Web tra cứu Hóa Học :
http://webbook.nist.gov/chemistry/
http://www.chemfinder.com

Web về các tạp chí Hóa Học:
http://www.abc.chemistry.bsu.by/current/fulltext.htm
http://www.freefulltext.com/
http://www.textbookrevolution.org/

Web về nanotechnology:http://www.crnano.org/whatis.htm

Hai tạp chí hàng đầu mà mọi ngành khoa học đều có thể đăng ở đây. Nhà khoa học nào có bài trên hai tạp chí này, thì xứng đáng được mọi người ngã mũ bái phục. Ngay cả nhà khoa học hàng đầu VN (tầm cỡ thế giới) hiện nay, GS. VS. Nguyễn Văn Hiệu, cũng chưa có bài nào trên 2 tạp chí này. Phần lớn các công trình đoạt giải Nobel, xuất phát từ 2 tạp chí này:

Nature (UK): http://www.nature.com ( Tạp chí này như tôi biết là mới có một nghiên cứu sinh người Việt chuyên ngành Hóa Nano tại Nhật Bản được đăng trên trang nhất_Được coi như giải Nobel nhỏ trong ngành Hóa)
Science (USA): http://www.sciencemag.org

Các tạp chí của Hội Hóa học Mỹ (ACS). Chất lượng các bài báo, các công trình Hóa học ở đây thì miễn bàn, mọi nhà hóa học đều ao ước có bài báo trên các tạp chí này. VN ta chưa thể có bài báo trên này, trừ những người VN làm đề tài bên nước ngoài (không phải ai cũng được).

http://pubs.acs.org/about.html

Các tạp chí của Hội Hóa học Anh (RSC). Impact factor nhỏ hơn ACS một chút.

http://www.rsc.org/Publishing/Journals/Index.asp

Những trang web sau không thuộc hội hóa học nào, mấy cái này chỉ là các nhà xuất bản danh tiếng, tập hợp các tạp chí lại. Bao gồm tạp chí của tất cả các ngành: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội, kinh tế, y dược… Với số lượng tạp chí khổng lồ.

http://www.sciencedirect.com/ (sv mình quen dùng cái này).
http://www3.interscience.wiley.com/ (số tạp chí ít hơn sciencedirect một chút)
http://www.ingentaconnect.com/ Cái này số tạp chí còn nhiều hơn sciencedirect nữa, nhưng có một số tạp chí trùng với bên sciencedirect.
http://springerlink.com (cái này có mấy tạp chí về material science, và mấy tạp chí của Nga bằng tiếng Anh rất hay)
http://www.blackwell-synergy.com/ (Mấy cái ceramics hay)
http://www.journalsonline.tandf.co.uk (Francis & Taylor)
http://search.epnet.com (cái này trường mình vào cũng được, có mấy tạp chí của China)

Ngoài ra còn có tạp chí của Viện Vật lý Mỹ (IoP). Cái này có mấy tạp chí Physica và Nanotechnology hay (gần với Hóa).
http://journals.iop.org/.

Tập hợp các báo cáo khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học Mỹ từ 1915-2006

http://www.pnas.org/contents-by-date.0.shtml

Các bạn học hữu cơ làm đề tài liên quan đến sinh học thì vô trang này nha, rất nhiều tạp chí free về life sciences.

http://www.pubmedcentral.gov

Những bài giảng chất lượng nhất cho hữu cơ là kho của ĐH Harvard !!! Mỗi năm nó cập nhật một lần, kiến thức rất sâu, nhưng rất cần thiết !!!

Đây là những kho lectures nói chung rất lợi hại !!!
http://chemistry.ucsc.edu/teaching/Winter02/
http://chemistry.ucsc.edu/teaching/ (update: cái này hay hơn cái trên )
http://web.chem.ucla.edu/~harding/cfqpp/
http://www.bluffton.edu/~bergerd/cl…EM221/home.html (hướng dẫn: vô course information > handouts> cứ vào từng mục coi cho nó sướng
http://www.mpcfaculty.net/ron_rinehart/12A/Default.htm ( cực kì hay )
Còn đây là một đống link dẫn đến những bộ môn khác (mới search được luôn )
http://www.mpcfaculty.net/ron_rinehart/default.htm

http://cheminf.cmbi.ru.nl/wetche/organic/subjmenu.html (trang này về hữu cơ khá sâu )
Tình cờ search được một link về computational chem:
http://zopyros.ccqc.uga.edu/lec_top/lectures.html

Một cuốn sách online về organic của Francis Carey , do đây là sách online nên không thể đưa vào “tài nguyên chemvn>ebook được”
http://www.chem.ucalgary.ca/courses/350/Carey/

Trong này có một số môn các bạn lấy bài giảng được đó. Có một số bài giảng bằng video nữa. Các bạn chọn course, vào lecture, handout, exam, assignment để coi. Nói trước là có một số môn nó đòi account nha. Lúc trước lấy được hết, sao giờ lại như vậy không biết.

http://www.registrar.fas.harvard.ed…calBiology.html

Quá nhiều luôn, chuyên ngành nào cũng có, tha hồ mà học nha các bạn.

http://www.chemistry.msu.edu/Courses/courses.asp

Tạp chí Hóa học Giáo Dục của Mỹ từ năm 1984 – 1996
http://www.jce.divched.org/JCE/

Hoặc :http://www.jce.divched.org//JCE/ima…61/11/M/119.gif
Rồi từ thanh address bar delete từng mục ví dụ delete 119.gif thu được
http://www.jce.divched.org//JCE/image/gif/061/11/M
và cứ làm như vậy cho tới khi được trang bên trên.

Hình như trong vinatech cũng có diễn đàn về hóa đấy http://vinatech.org/html/modules/new…m.php?forum=30

Cấu trúc đề thi đại học năm 2011 môn Hóa học


 Phần chung dành cho tất cả thí sinh (40 câu)

- Nguyên tử, bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học, liên kết hoá học: 2 câu

- Phản ứng oxi hoá- khử, tốc độ phản ứng, cân bằng hoá học: 2 câu

- Sự điện li: 1 câu

- Cacbon, silic, nitơ, photpho, oxi, lưu huỳnh, các nguyên tố thuộc nhóm halogen; các hợp chất của chúng: 3 câu

- Đại cương về kim loại: 2 câu

- Kim loại kiềm, kim loại kiềm thổ, nhôm; các hợp chất của chúng: 5 câu

- Tổng hợp nội dung kiến thức hoá học vô cơ thuộc chương trình phổ thông: 6 câu

- Đại cương hoá học hữu cơ, hiđrocacbon: 2 câu

- Dẫn xuất halogen, ancol, phenol: 2 câu

- Anđehit, xeton, axit cacbonxylic: 2 câu

- Este, lipit: 2 câu

- Amin, amino axit, protein: 3 câu

- Cacbonhidrat: 1 câu

- Polime, vật liệu polime: 1 câu

- Tổng hợp nội dung kiến thức hoá học hữu cơ thuộc chương trình phổ thông: 6 câu

* Phần riêng:

Thí sinh chỉ được làm một trong hai phần (phần A hoặc phần B)

A. Theo chương trình Chuẩn (10 câu):

- Phản ứng oxi hoá- khử, tốc độ phản ứng, cân bằng hoá học, sự điện li: 1 câu

- Anđehit, xeton, axit cacbonxylic: 2 câu

- Đại cương về kim loại: 1 câu

- Sắt, Crom, đồng, niken, kẽm, chì, bạc, vàng, thiếc; các hợp chất của chúng:   2 câu

- Phân biệt chất vô cơ, hoá học và vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, môi trường: 1 câu

- Hidrocacbon, dẫn xuất halogen, phenol, ancol, cacbonhidrat, polime: 2 câu

- Amin, amino axit, protein: 1 câu

B. Theo chương trình nâng cao (10 câu):

- Phản ứng oxi hoá- khử, tốc độ phản ứng, cân bằng hoá học, sự điện li: 1 câu

- Anđehit, xeton, axit cacbonxylic: 2 câu

- Đại cương về kim loại: 1 câu

- Sắt, Crom, đồng, niken, kẽm, chì, bạc, vàng, thiếc; các hợp chất của chúng:   2 câu

- Phân biệt chất vô cơ, chuẩn độ dung dịch, hoá học và vấn đề phát triển kinh tế, xã hội, môi trường: 1 câu

- Hidrocacbon, dẫn xuất halogen, phenol, ancol, cacbonhidrat, polime: 2 câu

- Amin, amino axit, protein: 1 câu

( Theo thongtintuyensinh.vn )

Đơn giản hóa thủ tục chuyển trường


(Theo VH) Theo đó, 4 loại giấy tờ không cần thiết sẽ được bỏ.

Đó là Bằng tốt nghiệp cấp học dưới (hoặc bản công chứng); Giấy chứng nhận trúng tuyển vào lớp đầu cấp THPT quy định cụ thể loại hình trường được tuyển; Giấy giới thiệu chuyển trường do Trưởng phòng GD&ĐT (đối với cấp THCS), Giấy giới thiệu chuyển trường do Giám đốc Sở GD&ĐT(đối với cấp THPT) nơi đi cấp; Giấy xác nhận của chính quyền địa phương nơi học sinh cư trú với những học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Ngoài ra, thay vì cần nộp “Giấy chứng nhận tạm trú dài hạn”, HS chuyển nơi cư trú đến tỉnh, thành phố khác chỉ cần nộp “Giấy chứng nhận tạm trú”.

Thời hạn giải quyết thủ tục được quy định tối đa là 3 ngày làm việc nhằm tạo điều kiện cho học sinh được nhanh chóng đi học.

VŨ PHƯỢNG

 

Yêu cầu soạn bài giảng E – Learning


1. Yêu cầu chung

a) Nội dung sản phẩm tham gia cuộc thi bám sát chương trình chuẩn của các môn học.

b) Tất cả các thông tin gắn kèm trong sản phẩm dự thi đều phải rõ nguồn gốc và cung cấp các thông tin về nguồn gốc của tư liệu tham khảo;

c) Ngôn ngữ chính được sử dụng là tiếng Việt. Khuyến khích có phiên bản tiếng Anh đi kèm;

d) Các nhóm có thể chủ động tự công khai sản phẩm dự thi để lấy ý kiến đóng góp hoàn thiện sản phẩm;

đ) Để thúc đẩy triển khai email theo tên miền của giáo dục, Ban Tổ chức khuyến khích các tác giả bài giảng dùng email có tên miền của Sở, của trường hoặc @moet.edu.vn (Cục Công nghệ Thông tin cấp rộng rãi, xin gửi đăng ký quadangky-email@moet.edu.vn); tránh dùng các email có tên miền xã hội chung như @yahoo, @gmail, vnn.vn).

 

2. Yêu cầu đối với sản phẩm B ài giảng e-Learning

a)     Bài giảng e-Learning được tạo ra từ các công cụ tạo bài giảng, có khả năng tích hợp đa phương tiện truyền thông (multimedia) gồm phim (video), hình ảnh, đồ hoạ, hoạt hình, âm thanh, tiếng nói…), tuân thủ một trong các chuẩn SCORM, AICC (Có Phụ lục đính kèm giới thiệu một số phần mềm công cụ đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn và được khuyến cáo sử dụng).

b)    Nhóm tác giả có thể thuyết minh thêm để làm rõ sản phẩm dưới dạng một giáo án, trong đó giới thiệu và nhấn mạnh q uan điểm, ý đồ của tác giả khi xây dựng bài giảng; mục đích, yêu cầu …

c)     Bài giảng được xây dựng theo bài, theo chương, theo cả chương trình môn học hoặc theo mô đun, không nhất thiết làm cả một chương trình hoàn chỉnh theo khối lớp. Tuy nhiên bài giảng cần hoàn chỉnh ở một mô đun kiến thức nhất định. Khi chấm, chất lượng bài giảng được chú trọng hàng đầu, rồi đến số lượng.

d)    Trang đầu tiên của bài giảng ghi rõ theo mẫu:

Mục tin Thí dụ trang trình bày đầu tiên
Tên cuộc thi

 

 

tên bài giảng.

 

tên môn, tên lớp;

tên (nhóm) tác giả biên soạn;

email:

tên trường học; quận/huyện, tỉnh/tp

 

Tháng năm 2010

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Cuộc thi Thiết kế hồ sơ bài giảng điện tử e-Learning

——–

Bài giảng:

SÓNG ÂM THANH

Chương trình Vật lý, lớp 12

Giáo viên: Lê Văn Nam

levannam@moet.edu.vn

Trường THPT Chu Văn An,

huyện ABC, tỉnh/tp XYZ

Tháng 4/2010

-  Trang cuối của bài giảng cần nêu rõ các tài liệu và website tham khảo.

e)     Nội dung bài giảng cần có các trang trắc nghiệm tương tác để củng cố kiến thức, kích thích người học học một cách tích cực. Các hình thức trắc nghiệmcó thể gồm:

-  Chọn phương án đúng;

-  Đúng/sai;

-  Ghép đôi;

-  Sắp xếp theo trật tự đúng;

-  Điền khuyết;

-  Nghe hiểu và điền từ;

-  …

f)      Dạng xuất bản và công bố bài giảng: Khuyến khích dùng các công cụ soạn bài giảng để tuỳ theo nhu cầu sử dụng có thể xuất ra các dạng: CD (offline), web (online),  pdf (textbook);

g)     Tư liệu giảng dạy: Bên cạnh việc dùng các tư liệu của xã hội, Ban Tổ chức khuyến khích giáo viên tự tạo video quay các bài thí nghiệm thật và tự chụp các ảnh tư liệu nếu có điều kiện (ảnh di tích, ảnh nhân vật lích sử, ảnh thiết bị…); tự vẽ hình đồ hoạ (graphic).

h)     Có ghi âm lời giảng của giáo viên và cho xuất hiên hình hoặc video giáo viên giảng bài khi cần thiết;

i)       Sử dụng các công cụ quay phim thao tác màn hình để làm bài giảng về hoạt động của các phần mềm cho môn tin học và các môn học khác.

3. Yêu cầu đối với sản phẩm Website e-Learning

a)     Website e-Learning thể hiện môi trường học trực tuyến gồm các bài giảng e-Learning, hệ thống quản lý học tập LMS; khuyến khích dùng phần mềm mã nguồn mở như hệ thống quản lý học tập LMS của Moodle, Dokeos; website chứa phòng học ảo như Adobe Connect;

b)    Cần có trang giới thiệu tóm tắt nội dung trên website;

c)     Địa chỉ website (nếu có online);

d)    Website trên localhost, ghi vào đĩa CD để chạy ngoại tuyến.

4. Yêu cầu đối với sản phẩm Sách giáo khoa điện tử

a)     Định hướng:

-   Có mục lục sách giáo khoa điện tử đầy đủ theo chương trình chuẩn;

-   Khuyến khích xây dựng sách giáo khoa điện tử được xây dựng trên nền mởwikipedia và toolbook;

-   Tích hợp đa phương tiện;

-   Có tính mở để tạo điều kiện cho mọi người góp ý, bổ sung, cập nhật;

b)    Cách tiếp cận nội dung sách giáo khoa nhưng mang tính sáng tạo, mới và hiệu quả hơn;

c)     Khối lượng nội dung tương đối hoàn chỉnh, cần đạt được ít nhất 50% khối lượng chương trình trở lên;

d)    Có định hướng phát triển, bổ sung và cập nhật tiếp;

e)     Các sản phẩm bổ trợ kèm theo (phần mềm chuyên dụng nếu có).

5. Yêu cầu đối với sản phẩm Thí nghiệm ảo

a)     Thí nghiệm ảo: Là các phần mềm hoặc mô đun phần mềm mô phỏng, thường là các mô đun được viết bằng Java applet, Interactive flash video, tích hợp đa phương tiện và có tính mở (mã nguồn) để tạo điều kiện cho mọi người bổ sung, cập nhật;

b)    Thí nghiệm ảo được xây dựng theo bài, theo chương, theo chương trình môn học hoặc theo mô đun kiến thức, khuyến khích xây dựng một tập hợp các thí nghiệm hoàn thiện cho một nội dung cụ thể;

c)     Nội dung thí nghiệm phải chính xác, phản ánh đúng tính chất khoa học;

d)  Khuyến khích xây dựng thí nghiệm khó thực hiện trong thực tế.

 

Đôi nét về E-learning


“Công nghệ thông tin cũng sẽ làm thay đổi rất lớn việc học của chúng ta. Những người công nhân sẽ có khả năng cập nhật các kỹ thuật trong lĩnh vực của mình. Mọi người ở bất cứ nơi đâu sẽ có khả năng tham gia các khóa học tốt nhất được dạy bởi các giáo viên giỏi nhất.” (The Road Ahead, Bill Gates)

Nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn kinh tế tri thức. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục, đào tạo sẽ là nhân tố sống còn quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, công ty, gia đình và cá nhân. Hơn nữa, việc học tập không chỉ bó gọn trong việc học phổ thông, học đại học mà là học suốt đời. E-learning chính là một giải pháp hữu hiệu giải quyết vấn đề này.

E-learning là một thuật ngữ thu hút được sự quan tâm, chú ý của rất nhiều người hiện nay. Tuy nhiên, mỗi người hiểu theo một cách khác nhau và dùng trong các ngữ cảnh khác nhau. Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu các khía cạnh khác nhau của E-learning. Điều này sẽ đặc biệt có ích cho những người mới tham gia tìm hiểu lĩnh vực này.

I. Khái niệm E-learning

E-learning (viết tắt của Electronic Learning) là thuật ngữ mới. Hiện nay, theo các quan điểm và dưới các hình thức khác nhau có rất nhiều cách hiểu về E-learning. Hiểu theo nghĩa rộng, E-learning là một thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập, đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghệ thông tin.

Theo quan điểm hiện đại, E-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng vệ tinh, mang Internet, Intranet,… trong đó nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio… thông qua một máy tính hay TV; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: e-mail, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…

Có hai hình thức giao tiếp giữa người dạy và người học: giao tiếp đồng bộ (Synchronous) và giao tiếp không đồng bộ (Asynchronous). Giao tiếp đồng bộ là hình thức giao tiếp trong đó có nhiều người truy cập mạng tại cùng một thời và trao đổi thông tin trực tiếp với nhau như: thảo luận trực tuyến, hội thảo video, nghe đài phát sóng trực tiếp, xem tivi phát sóng trực tiếp… Giao tiếp không đồng bộ là hình thức mà những người giao tiếp không nhất thiết phải truy cập mạng tại cùng một thời điểm, ví dụ như: các khoá tự học qua Internet, CD-ROM, e-mail, diễn đàn. Đặc trưng của kiểu học này là giảng viên phải chuẩn bị tài liệu khoá học trước khi khoá học diễn ra. Học viên được tự do chọn lựa thời gian tham gia khoá học.

II. Một số hình thức E-learning

Có một số hình thức đào tạo bằng E-learning, cụ thể như sau:

1. Đào tạo dựa trên công nghệ (TBT – Technology-Based Training) là hình thức đào tạo có sự áp dụng công nghệ, đặc biệt là dựa trên công nghệ thông tin.

2. Đào tạo dựa trên máy tính (CBT – Computer-Based Training). Hiểu theo nghĩa rộng, thuật ngữ này nói đến bất kỳ một hình thức đào tạo nào có sử dụng máy tính. Nhưng thông thường thuật ngữ này được hiểu theo nghĩa hẹp để nói đến các ứng dụng (phần mềm) đào tạo trên các đĩa CD-ROM hoặc cài trên các máy tính độc lập, không nối mạng, không có giao tiếp với thế giới bên ngoài. Thuật ngữ này được hiểu đồng nhất với thuật ngữ CD-ROM Based Training.

3. Đào tạo dựa trên web (WBT – Web-Based Training): là hình thức đào tạo sử dụng công nghệ web. Nội dung học, các thông tin quản lý khoá học, thông tin về người học được lưu trữ trên máy chủ và người dùng có thể dễ dàng truy nhập thông qua trình duyệt Web. Người học có thể giao tiếp với nhau và với giáo viên, sử dụng các chức năng trao đổi trực tiếp, diễn đàn, e-mail… thậm chí có thể nghe được giọng nói và nhìn thấy hình ảnh của người giao tiếp với mình.

4. Đào tạo trực tuyến (Online Learning/Training): là hình thức đào tạo có sử dụng kết nối mạng để thực hiện việc học: lấy tài liệu học, giao tiếp giữa người học với nhau và với giáo viên…

5. Đào tạo từ xa (Distance Learning): Thuật ngữ này nói đến hình thức đào tạo trong đó người dạy và người học không ở cùng một chỗ, thậm chí không cùng một thời điểm. Ví dụ như việc đào tạo sử dụng công nghệ hội thảo cầu truyền hình hoặc công nghệ web.

III.Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning trên thế giới

E-learning phát triển không đồng đều tại các khu vực trên thế giới. E-learning phát triển mạnh nhất ở khu vực Bắc Mỹ. ở châu Âu E-learning cũng rất có triển vọng, trong khi đó châu Á lại là khu vực ứng dụng công nghệ này ít hơn.

Tại Mỹ, dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo số liệu thống kê của Hội Phát triển và Đào tạo Mỹ (American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47% các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa, tạo nên 54.000 khoá học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của Công ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2004 có khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số người tham gia học tăng 33% hàng năm trong khoảng thời gian 1999 – 2004. E-learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu quả cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force…

Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, đặc biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền giáo dục.

Công ty IDC ước đoán rằng thị trường E-learning của châu Âu sẽ tăng tới 4 tỷ USD trong năm 2004 với tốc độ tăng 96% hàng năm. Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng E-learning của 36 trường đại học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.

Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là những rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại. Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,…

Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các hãng sản xuất, các doanh nghiệp… và dùng để đào tạo nhân viên.

IV. Tình hình phát triển và ứng dụng E-learning ở Việt Nam

Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning ở Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Gần đây các hội nghị, hội thảo về công nghệ thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001 và gần đây là Hội thảo khoa học quốc gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học “Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng 3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.

Các trường đại học ở Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu và triển khai E-learning. Một số đơn vị đã bước đầu triển khai các phần mềm hỗ trợ đào tạo và cho các kết quả khả quan: Đại học Công nghệ – ĐHQGHN, Viện CNTT – ĐHQGHN, Đại học Bách Khoa Hà Nội, ĐHQG TP. HCM, Học viện Bưu chính Viễn thông,… Gần đây nhất, Trung tâm Tin học Bộ Giáo dục & Đào tạo đã triển khai cổng E-learning nhằm cung cấp một cách có hệ thống các thông tin E-learning trên thế giới và ở Việt Nam. Bên cạnh đó, một số công ty phần mềm ở Việt Nam đã tung ra thị trường một số sản phẩm hỗ trợ đào tạo đào tạo. Tuy các sản phẩm này chưa phải là sản phẩm lớn, được đóng gói hoàn chỉnh nhưng đã bước đầu góp phần thúc đẩy sự phát triển E-learning ở Việt Nam.

Việt Nam đã gia nhập mạng E-learning châu á (Asia E-learning Network – AEN, http://www.asia-elearning.net) với sự tham gia của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Khoa học – Công nghệ, trường Đại học Bách Khoa, Bộ Bưu chính Viễn Thông…

Điều này cho thấy tình hình nghiên cứu và ứng dụng loại hình đào tạo này đang được quan tâm ở Việt Nam. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực E-learning ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu còn nhiều việc phải làm mới tiến kịp các nước.

 

4 kênh “hot” học tiếng Anh trên YouTube


Đối với nhiều người trang trực tuyến YouTube chỉ đơn thuần là một trang web giải trí lớn nhất thế giới được cồng đồng mạng chia sẻ. Mặc dù, YouTube còn rất nhiều kênh thông tin bổ ích khác nữa đang chờ bạn khám phá. Điều thú vị ở đây là bạn có được rất nhiều kinh nghiệm học tiếng Anh trên trang này và gặp nhiều người nói chuyện hấp dẫn và thu hút hàng triệu lượt người xem mỗi ngày.

Sau đây XahoiThongtin sẽ giới thiệu đến độc giả 4 kênh YouTube “hot” nhất giúp bạn học tiếng Anh hiệu quả nhờ các hình ảnh minh họa và âm thanh trực quan rất sinh động.
Jennifer là một cô giáo dạy tiếng Anh, người Mỹ. Các bài học của cô chủ yếu tập trung vào những tình huống giao tiếp diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Đến với kênh tiếng Anh này, bạn có thể học được ở đây các bài học liên quan về ngữ pháp, cách phát âm, từ vựng, từ lóng…

Các bài học thường kéo dài trên 10 phút được chia làm nhiều chủ đề khác nhau, giọng rất dễ nghe, tốc độ nói vừa phải chắc chắn sẽ giúp bạn dễ dàng bắt trước được mọi cử chỉ bằng tay và ngữ điệu.
Nếu độc giả có những câu thắc mắc về tiếng Anh có thể gửi về hộp thư tại englishwithjennifer@gmail.com, Jennifer sẽ trả lời tất cả những câu hỏi trên. Bạn nhớ là những câu hỏi gửi về được viết toàn bằng tiếng Anh nhé.
Mr Ducan là một giáo viên dạy tiếng Anh, người Anh. Anh đã từng tham gia giảng dạy giao tiếp tiếng Anh ở Trung Quốc. Nhưng hiện tại, anh đang sống ở Anh. Một khi bạn truy cập vào trang của Ducan, bạn sẽ bị thuyết phục bởi cách nói chuyện rất dí dỏm, hài hước, tạo nhiều điều bất ngờ sau mỗi lần xem.

Mỗi bài học kéo dài từ 5 – 15 phút chia ra nhiều chủ đề hấp dẫn khác nhau diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Mỗi bài học của Ducan đều có ví dụ minh họa cho từng chủ đề mà tác giả muốn nhắc tới, giọng dễ nghe.
Ngoài ra, video còn có caption bên dưới để bạn dễ nắm bắt được nội dung nếu không nghe kịp. Hiện Ducan đưa lên trang 59 chủ đề bài học giao tiếp khác nhau, bạn đọc có thể tải về máy để phát lại khi không có Internet.
Tìm kiếm với JackBarnett21 (http://www.youtube.com/user/jackBarnett21)
Trang web này là do một người Anh tạo ra để chia sẻ những bài học tiếng Anh căn bản nhất đến người yêu thích ngoại ngữ này. Các bài học ở đây không phải là những chủ đề diễn ra trong cuộc sống hàng ngày. Mà hầu hết các chủ để đều liên quan đến các mẫu câu và tác giả có nhiệm vụ hướng dẫn cách đọc, ngữ điệu lên xuống… nhưng đôi khi cả những chủ đề hướng dẫn ngay trên cửa sổ web.

Hiện trang web này có trên 1.000 video clip được chia sẻ với nhiều chủ đề khác nhau, bạn chỉ cần gõ cụm từ “i-TEACH-u English” vào ô tìm kiếm trong trang để tìm những đoạn video dạy tiếng Anh. Mọi thắc mắc, bạn đọc xin gửi về địa chỉ email của tác giả: Jack.barnett.wmin@gmail.com.
Học với Natalie Tran (http://www.youtube.com/communitychannel)
Natalie Tran, một cô nữ sinh gốc Việt thu hút gần 320 triệu người xem trên mạng lại không quá chú tâm vào việc dạy học tiếng Anh. Tuy nhiên, giọng của cô cũng khiến rất nhiều người muốn bắt trước cách nói chuyển dí dỏm và rất hài ước.

Các đoạn video của cô được chia sẻ đều thể hiện những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, cách đối sử của con người với động vật, và cả những câu chuyện có thật… Bằng cách trình bày thật thú vị và hài hước.
Nếu bạn đang theo đuổi học thêm một ngoại ngữ thứ 2, đặc biệt là tiếng Anh, bạn cũng nên học cách nói hài hước từ Natalie Tran. Đây sẽ là kênh để bạn học hỏi rất nhiều về cách giao tiếp trong tiếng Anh.
Tiến Hoàng (tổng hợp)

 

Một số Website thông tin du học bổ ích


Nhằm mục đích giúp các du học sinh có thêm thông tin du học ở các nước, xin giới thiệu một số trang web du học của các Hội thanh niên – sinh viên Việt Nam tại nước ngoài. Đây là những trang web du học đáng tin cậy, có nhiều thông tin bổ ích về học tập, học bổng, đời sống du học sinh Việt Nam ở các nước sở tại… * Hội sinh viên Việt Nam tại Anh:
http://www.svuk.org.uk, http://www.postgraduate.org.uk
* Hội sinh viên Việt Nam tại Mỹ: http://www.svduhoc.vnn.vn/usguide/ * Hội sinh viên Việt Nam tại Bắc Mỹ: http://www.svduhoc.com * Hội sinh viên Việt Nam tại Nhật Bản: http://www.vysa.jp * Hội sinh viên Việt Nam tại Pháp: http://www.uevf.org, http://nnb.cjb.net (Nhóm Những Người Bạn tại Pháp) * Hội sinh viên Việt Nam tại Đức: http://www.avys.de - Hội sinh viên Việt Nam tại thành phố Dresden-Đức:http://ipb.svvn-dresden.org * Hội sinh viên Việt Nam tại Hàn Quốc: http://vnkronline.net * Hội sinh viên Việt Nam tại Hà Lan: http://www.svnl.net * Hội sinh viên Việt Nam tại Phần Lan: http://otax.tky.hut.fi/~vn-uni/ * Hội sinh viên Việt Nam tại Na Uy: http://www.avsnonline.net * Hội sinh viên Việt Nam tại áo: http://www.sva-online.net * Hội sinh viên Việt Nam tại LB Nga: http://www.sinhvienmos.ru http://www.svvn.ru - Hội sinh viên Việt Nam tại Saint – Petecburg: http://www.svlen.com * Hội sinh viên Việt Nam tại Melbourne – Australia: http://www.movsa.org * Hội Sinh viên Việt Nam tại Malaysia: http://www.mysvvn.com. Một số trang web du học hữu ích khác: * Hội đồng Anh: http://www.britishcouncil.org * IDP Education Australia (Tổ chức giáo dục quốc tế do các trường đại học của Australia): http://www.idp.com.vn

Bảng tuần hoàn hóa học trở nên lỗi thời?!


Các sách giáo khoa, tranh minh họa cùng bảng hệ thống tuần hoàn của môn hóa học mà học sinh đang sử dụng sẽ trở thành lỗi thời trong thời gian tới.

Ủy ban về Đồng vị và Khối lượng nguyên tử, cơ quan quản lý các vấn đề về nguyên tử khối thuộc Hiệp hội Hóa học lý thuyết và ứng dụng Quốc tế (IUPAC) vừa ra một tuyên bố tại ĐH Calgary (Canada) rằng: Sẽ có 10 nguyên tố bị sửa đổi khối lượng nguyên tử của chúng trong Bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học.

Có thể nói đây là sự thay đổi lớn nhất trong khoa học đại chúng kể từ lần Sao Diêm Vương bị giáng cấp bậc hành tinh vào năm 2006.

Lý do của sự thay đổi: Khối lượng nguyên tử (hay số khối) của một nguyên tử không phải là cố định như trong sách giao khoa môn hóa học.

Nhiều nguyên tố có nhiều hơn một đồng vị ổn định, nghĩa là nguyên tử của chúng có thể tồn tại trong tự nhiên ở khối lượng khác nhau. Ví dụ, lưu huỳnh thường được biết có khối lượng nguyên tử là 32,065 nhưng nó có thể có những khối lượng khác nằm trong khoảng từ 32,059 đến 32,076, tùy ở từng nơi.

Như vậy, Bảng khối lượng nguyên tử mới sẽ thêm vào mỗi nguyên tố một dãy các khối lượng. Theo IUPAC, các nguyên tố sẽ bị thay đổi là: Hy-đrô (Hydrogen), Li-ti (Lithium), Bo (Boron), Các-bon (Carbon), Ni-tơ (Nitrogen), Ô-xy (Oxygen), Si-líc (Silicon), Lưu huỳnh (Sulfur), Clo (Chlorine) và Ta-li (Thallium).

Sự thay đổi này sẽ làm cho Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học phản ánh đúng hơn sự tồn tại của các chất trong trong tự nhiên nhưng nó cũng có thể làm cho việc giảng dạy hóa học phức tạp hơn một chút.

Fabienne Meyers, phó giám đốc của IUPAC cho biết: “Mặc dù thay đổi này cung cấp lợi ích đáng kể cho những hiểu biết về môn Hóa nhưng từ giờ, công việc giảng dạy sẽ có một thách thức mới, sinh viên sẽ phải lựa chọn một trong các con số được liệt kê để áp dụng vào tính toán”.

Tuy nhiên Meyers cho rằng: “Chúng tôi hy vọng, ngành hóa học và giáo dục sẽ biến vấn đề này thành một cơ hội để khuyến khích những người trẻ tuổi nhiệt tình học tập và khám phá môn hóa học”.

Nói về ứng dụng thực tế, phương pháp đo đồng vị có thể được sử dụng để xác định sự tinh khiết hoặc nguồn gốc thực phẩm; tìm ra các chất gây ô nhiễm trong các nguồn nước, nhận biết các kích thích tố sinh dục nam trong cơ thể người và xác định niên đại trong khảo cổ học…

Đồng vị là các dạng của cùng một nguyên tố hóa học có cùng số electron và số proton trong hạt nhân nguyên tử nhưng có số khối khác nhau (vì chứa số neutron khác nhau).

Nguồn Cnet/Đất Việt

Tổng quan về thí nghiệm ảo trong dạy học Hóa học


Thí nghiệm ảo là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức đối tượng học tập nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, sinh học…xảy ra trong tự nhiên hay trong phòng thí nghiệm, có đặc điểm là có tính tương tác cao, giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể mô phỏng những quá trình, điều kiện tới hạn khó xảy ra trong tự nhiên hay khó thu được trong phòng thí nghiệm.

Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay hay dậy chay thường gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm giúp người học chủ động học tập phù hợp với tinh thần người học là trung tâm của giáo dục hiện đại

Điểm mạnh của thí nghiệm ảo

- Dễ dùng, trực quan sinh động
Giao diện thân thiện, dễ dùng với âm thanh và hình ảnh trực quan sinh động, học sinh không chỉ được nhìn, xem, còn có cơ hội tham gia thực sự các thí nghiệm ảo qua các thao tác đã được trực quan hóa với những thiết bị ảo, đây chính là một điểm mạnh của phần mềm so với những bài giảng power point truyền thống. Tính chủ động của học sinh, sinh viên tăng lên do có thể tự học ở nhà trên đĩa CD hay web trong khi giáo viên có thể sử dụng trên lớp như giáo cụ trực quan minh họa cho bài giảng, do đó khắc phục được phần nào về tình trạng thiếu thiết bị, nguyên vật liệu thí nghiệm như hiện nay.
- Tăng hứng thú và tính chủ động
Để hỗ trợ tự học, một giáo viên ảo với giọng nói truyền cảm sẽ giúp sinh viên trong khi học, giáo viên ảo có thể bầy tỏ thái độ, khuyến khích hay chê trách giúp sinh viên dễ định hướng kiến thức trong khi học.
Sự kết hợp hài hòa giữa câu hỏi trắc nghiệm truyền thống (lựa chọn, đúng sai,..) với hình thức trắc nghiệm kỹ năng giàu tính tương tác thu hút chú ý và tăng tính chủ động người học.
Giao diện học tập được tính toán yếu tố mầu sắc, tiện lợi và chiến lược giáo dục. Có hai chế độ học: mod tuần tự (khi yêu cầu về tính qui trình là quan trọng). Với mod lựa chọn, có thể chọn một chủ đề học tập bất kỳ, tùy thuộc vào tiến độ, khả năng tiếp thu cá nhân, giáo viên dùng mod này khi giảng trên lớp.
- Hiệu quả đạt được
Do kết hợp BÀI GIẢNG + tương tác THỰC HÀNH + TRẮC NGHIỆM đánh giá: Thí nghiệm mô phỏng góp vai trò vào 2/3 yếu tố làm tăng tính chủ động học tập. trực quan, tương tác cao, cho phép đánh giá mức độ tiếp thu kiến thức của sinh viên là những yếu tố không thể thiếu đối với một phần mềm giáo dục hiện đại.
Tích hợp đa phương tiện
Việc tích hợp tính năng multimedia (đoạn phim, âm thanh,…) làm thí nghiệm sinh động cùng với lập trình hành động tạo đối tượng thí nghiệm ảo dễ dùng lại sẽ tiết kiệm công sức thiết kế phát triển đối với những vòng đời sau của phần mềm.
Không chỉ lập trình
Muốn phần mềm tốt cần kịch bản tốt, có tính sư phạm, chính xác, khoa học, kết cấu chặt chẽ. Người viết kịch bản cần tham khảo nhiều tài liệu, ý kiến chuyên gia, giảng viên và sinh viên về môn học. Sự tương đồng với kịch bản phim hoạt hình (phân cảnh) giúp phần mềm sinh động mà vẫn đảm bảo các tiêu chí giáo dục cần thiết.
Việc xây dựng thư viện đối tượng thí nghiệm, thiết bị ảo giúp tối ưu quá trình phát triển phần mềm vì cho phép dùng lại khi xây dựng phần mềm tương đương. Thiết bị thí nghiệm ảo giúp sinh viên làm quen với thiết bị, nắm được kiến thức và yêu cầu thực nghiệm, làm tiền đề khai thác thí nghiệm thực. Thiết bị ảo được xây dựng qua nhiều bước: Thiết kế trạng thái, hành vi, tính chất, chụp hình, bóc tách,… lập trình, lồng ghép, đóng gói.
Khả năng tiến hành các thí nghiệm ảo, thử nghiệm các tình huống giả định, khó thu được trong thực nghiệm, tiến hành nhiều lần giúp tiết kiệm thời gian, chi phí nguyên vật liệu, giảm sai hỏng thiết bị do thao tác sai. Đây là một ưu điểm của phần mềm so với cách giảng bài kiểu cũ.
Một điều tra đã cho thấy mức độ sinh động bài giảng thí nghiệm ảo tăng lên 26% so với bài giảng trên PowerPoint. Tính thân thiện tăng 19%, độ khó hiểu giảm 4%. Như vậy áp dụng phần mềm đã thực sự tăng hiệu quả, chất lượng bài giảng.

Phân biệt thí nghiệm ảo và bài giảng điện tử

Thế nào là thí nghiệm ảo? Thế nào là bài giảng điện tử?
- Bài giảng điện tử :là một hình thức tổ chức bài lên lớp mà ở đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua môi trường multimedia do máy vi tính tạo ra. Cần lưu ý bài giảng điện tử không phải đơn thuần là các kiến thức mà học sinh ghi vào tập mà đó là toàn bộ hoạt động dạy và học tất cả các tình huống sẽ xãy ra trong quá trình truyền đạt và tiếp thu kiến thức của học sinh. Bài giàng điện tử càng không phải là một công cụ để thay thế “bảng đen phấn trắng” mà nó phải đóng vai trò định hướng trong tất cả các hoạt động trên lớp. Các đơn vị của bài học đều phải được Mutimedia hoá. Trong môi trường multimedia thông tin được truyền dưới các dạng: văn bản (Text), đồ hoạ (graphics), hoạt ảnh (animation), ảnh chụp (image), âm thanh (audio) và phim video (videoclip). Giáo án điện tử là bản thiết kế cụ thể toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học của giáo viên trên giờ lên lớp, toàn bộ hoạt động dạy học đó đã được multimedia hoá một cách chi tiết, có cấu trúc chặt chẽ và logic được quy định bởi cấu trúc của bài học. Giáo án điện tử là một sản phẩm của hoạt động thiết kế bài dạy được thể hiện bằng vật chất trước khi bài dạy học được tiến hành. Giáo án điện tử chính là bản thiết kế của bài giảng điện tử, chính vì vậy xây dựng giáo án điện tử hay thiết kế bài giảng điện tử là hai cách gọi khác nhau cho một hoạt động cụ thể để có được bài giảng điện tử.
- Thí nghiệm ảo: Là tập hợp các tài nguyên số đa phương tiện dưới hình thức đối tượng học tập, nhằm mục đích mô phỏng các hiện tượng vật lý, hóa học, sinh học…xảy ra trong tự nhiện hay trong phòng thí nghiệm, có đặc điểm là có tính năng tượng tác cao, giao diện thân thiện với người sử dụng và có thể mô phỏng những quá trình, điều kiện tới hạn khó xảy ra trong tư nhiện hay khó thu được trong phòng thí nghiệm. Thí nghiệm ảo giúp giảm thiểu việc học chay, dậy chay thường gặp do thiếu phương tiện, điều kiện thí nghiệm giúp người học chủ động học tập phù hợp với tinh thần người học là trung tâm của giáo dục hiện đại.
Vậy:
- Thí nghiệm ảo cũng giống với bài giảng điện tử, ngoài ra, một ưu điểm của thí nghiệm ảo trên máy tính là có thể giả lập những tình huống, điều kiện tới hạn, khó xảy ra trong thế giới thực giúp người học nắm được bản chất của vấn đề. Tuy nhiên, thí nghiệm ảo không thể thay thế được kinh nghiệm thực tiễn, hãy thử tưởng tượng phi công lái máy bay hạ cánh khi chỉ toàn thực tập trên mô hình ảo, hay một bác sĩ phẫu thuật mỗ tim trong khi lại chỉ toàn kinh nghiệm với dao mổ ảo trên máy tính.
- Thí nghiệm ảo và bài giảng điện tử gắn bó chặt chẽ với nhau, không thể tách rời, thí nghiệm ảo giúp tăng hiệu quả giáo dục, huấn luyện của bài giảng điện tử qua tính năng tương tác cao với người tiến hành thí nghiệm, với hệ thống trong khi bài giảng điện tử giúp xâu chuỗi các thí nghiệm ảo theo một trình tự logic, mang tính giáo dục. Thí nghiệm ảo cùng với bài giảng điện tử giúp áp dụng được cả 3 yếu tố giáo dục hiện đại trong phần mềm dạy học như HỌC + THỰC HÀNH + KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ, cần thiết hiệu quả học tập đạt được cao.

Cách xây dựng một thí nghiệm ảo trong môi trường 3D?

1. Tạo các vật thể: Bước này được xây dựng dựa theo các dụng cụ của kịch bản, nhằm tạo ra các dụng cụ thí nghiệm.
2. Tạo chất liệu, áp chất liệu vào vật thể: Bước này nhằm xây dựng chất liệu cấu tạo vật thể, Ví dụ như ống nghiệm được làm bằng thủy tính, giá đỡ được làm bằng sắt hay vật liệu đó là chẩt lỏng như nước, axit..
3. Ghép các dụng cụ lại với nhau. Từ các dụng cụ thí nghiệm được thiết kế riêng lẻ ghép các dụng cụ lại để bắt đầu xây dựng cảnh cho thí nghiệm.
4. Mô phỏng lại các phản ứng, tương tác có thể xẩy ra của thí nghiệm.
5. Phân tích các tương tác từ người sử dụng. Bước này cho phép người sự dụng tương tác với thí nghiệm thông qua giao diện đồ họa. Người sự dụng có thế hiệu chỉnh một số thông số như hiệu chỉnh góc nhìn, nhìn cận cảnh hay nhìn toàn bộ thí nghiệm, tương tác làm thay đổi thí nghiệm như tằng them nhiệt độ, tăng nồng độ chất ….

Để xây dựng được một thí nghiệm ảo ta phải làm gì?

- Khảo sát : Nhằm xem xét nột dung thí nghiệm, xem xét bản chất của sự vật, hiện tượng.
- Xây dựng kịch bản: Bước này là quan trọng nhất, cần có những tài liệu chính xác và các chuyên gia, giáo viên nhiều kinh nghiệm xây dựng.
- Việc chuẩn bị tài liệu xây dựng thí nghiệm rất khác so với việc biên soạn tài liệu truyền thống. Các kịch bản phải được thiết kế chuyên dụng, không đơn thuần như các slide bài giảng.
- Xây dựng khung thí nghiệm: Bước này mô hình hóa kịch bản, phân tích các cảnh, các công cụ sử dụng trong kịch bản, xây dựng các mô hình, phân tích các tượng tác của thí nghiệm.
- Xây dựng thí nghiệm: Sau khi đã xây dựng được khung thí nghiệm, kết hợp các dụng cụ, tương tác, các cảnh trong kịch bản… lắp ghép các công cụ lại thành 1 thí nghiệm hoàn chỉnh.
- Hiểu chỉnh: Bước này nhằm tinh chỉnh, kiểm tra, xem xét lại toàn bộ thí nghiệm xem đã thể hiện đúng bản chất của sự việc hay chưa?… Tại bước này thí nghiệm được kiểm tra cẩn trọng, tỷ mỉ nhằm phát hiện ra các phần còn thiếu xót của thì nghiệm.

 

Nguồn Share3dvn

 

 

PHỤ CẤP THÂM NIÊN CHO NHÀ GIÁO


Bộ GD&ĐT trả lời về chế độ phụ cấp thâm niên cho nhà giáo

(GD&TĐ)-Bộ GD&ĐT trả lời chất vấn của đồng chí Nguyễn Thị Hoa, Đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội về chế độ phụ cấp thâm niên cho nhà giáo


Nội dung chất vấn:

Trong dự thảo Nghị định lần 2 về chế độ phụ cấp thâm niên đối với giáo viên, trong đó có quy định trả thâm niên cho giáo viên nghỉ sau ngày 31/3/1993. Như vậy, những giáo viên đã nghỉ hưu trước ngày 31/3/1993 (khi nghỉ hưu có nhiều hơn hoặc  bằng 30 năm công tác) thì sẽ không được hưởng chế độ thâm niên.

Tôi xin hỏi Bộ trưởng:

1. Những giáo viên đã nghỉ hưu trước ngày 31/3/1993 có được hưởng chế độ thâm niên hoặc chính sách khác tương đương không? Nếu có được hưởng thì thể hiện ở văn bản nào?

2. Nếu không được hưởng thì tại sao? (trích ý kiến của rất nhiều giáo viên già ở huyện Phúc Thọ – Hà Nội).

Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

Theo Quyết định số 309 – CT ngày 09/12/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về phụ cấp thâm niên cho giáo viên và cán bộ giảng dạy có hiệu lực từ ngày 01 tháng 9 năm 1988 và hết hiệu lực ngày 31/3/1993 thì các nhà giáo và cán bộ giảng dạy nghỉ hưu trong giai đoạn này (01/9/1988 đến 31/3/1993) được tính hưởng phụ cấp thâm niên trong lương hưu còn các nhà giáo và cán bộ giảng dạy đã nghỉ hưu trước ngày 01/9/1988 không được tính hưởng phụ cấp thâm niên trong lương hưu; vấn đề này đã để lại nhiều tâm tư và có rất nhiều kiến nghị đối với Chính phủ.

Ngày 23/5/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 27/CP và căn cứ Nghị định này, ngày 02/6/1993, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã ban hành Thông tư số 14/LĐTBXH-TT hướng dẫn thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi đối với cán bộ hoạt động cách mạng trước năm 1945; điều chỉnh mức lương để tính lại lương hưu của một số trường hợp nghỉ hưu trước tháng 9 năm 1988 và phụ cấp thâm niên giáo dục đối với giáo viên, cán bộ giảng dạy đã nghỉ hưu. Theo các quy định trên đây, các giáo viên, cán bộ giảng dạy thuộc ngành giáo dục, đào tạo đã nghỉ hưu, mất sức lao động trước tháng 9/1988, các giáo viên, cán bộ giảng dạy thuộc hệ thống trường Đảng, đoàn thể, trường quản lý Nhà nước đã nghỉ hưu, mất sức lao động trước tháng 9/1991 được cộng mức phụ cấp thâm niên (quy định tại thông tư số 05/LĐ – TBXH ngày 08/3/1989 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội) với lương hưu khi nghỉ hưu, nghỉ việc vì mất sức lao động để tính lại lương hưu và trợ cấp, tính lại trợ cấp trượt giá, tiền đi lại (nếu có), tiền học để tiến hành điều chỉnh mức lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động (các văn bản này đều ban hành và có hiệu lực sau khi Quyết định số 309- CT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về chế độ phụ cấp thâm niên đối với giáo viên và cán bộ giảng dạy hết hiệu lực).

Như vậy, các giáo viên nghỉ hưu trước ngày 31/3/1993 đã được tính phụ cấp thâm niên trong lương hưu theo quy định tại Quyết định số 309 – CT ngày 09/12/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Nghị định số 27/CP ngày 23/5/1993 của Chính phủ.

Bộ GD&ĐT

 

5 bí quyết giúp bạn thuyết trình



Ngày nay, thuyết trình là một kỹ năng không thể thiếu, dù bạn làm việc trong công ty lớn hay nhỏ. Đặc biệt, khi làm việc ở các công ty nước ngoài, chuyện diễn thuyết bằng ngoại ngữ là điều hiển nhiên. Do đó, bạn cần chế ngự được nỗi sợ hãi này nếu không muốn cơ hội thăng tiến của mình bị cản trở.

Theo các chuyên gia tâm lý nhận xét, sự tự tin không biến bạn thành một diễn giả giỏi. Kỹ năng của bạn cần được trau dồi mỗi ngày, đồng thời bạn phải hiểu thật rõ những điều mình cần nói và chuẩn bị kỹ càng. Nhưng nếu bạn thấy những bí quyết này vẫn chưa đủ để giúp bạn giữ vững tâm lý, hãy tham khảo thêm những lời khuyên dưới đây.

1. Không nên quá cầu toàn
Phần lớn những người sợ nói trước đám đông bởi vì họ lo mình sẽ mắc phải những lỗi nào đó và bị người nghe cười chê. Ngay cả những diễn giả chuyên nghiệp cũng phạm lỗi khi nói nhưng họ không bao giờ xem đây là trở ngại. Không ai hoàn hảo, do đó, nếu bạn lỡ nói nhầm, cứ xem như đây chỉ là “chuyện nhỏ”, sửa lỗi và bình tĩnh, tập trung vào những điều sắp nói và tiếp tục như chưa có gì xảy ra.

Bạn không thể nào làm hài lòng tất cả khán giả của mình. Một số người sẽ cười bạn khi bạn mắc lỗi, một số khác không bận tâm. Và quan trọng hơn cả, sẽ có người nghĩ rằng bài thuyết trình của bạn thật hay! Nói chung, phạm lỗi không phải là điều gì to tát. Vấn đề là hãy biến những sơ suất này thành động cơ phấn đấu để hoàn thiện mình.

2. Tưởng tượng một kết cuộc như mong muốn
Nếu bạn sợ nói trước đám đông, bạn sẽ vẽ trong đầu cảnh mình quên bài giữa chừng, lấy “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, và biến mình thành trò cười trước khán giả. Nhưng bạn hãy ngừng ngay trí tưởng tượng đầy phong phú và tiêu cực tại đây! Bất cứ khi nào bạn thấy đầu óc mình bắt đầu vẽ ra những viễn cảnh “đen tối” này, hãy tập trung vào một việc khác như ca hát, huýt sáo, đi dạo hoặc nói chuyện với bạn bè.

Quan trọng hơn cả, bạn hãy hình dung buổi thuyết trình thành công tốt đẹp. Hãy tưởng tượng mình nói thật trôi chảy, cuốn hút và người nghe say sưa “uống” từng lời bạn nói. Khi bạn chuẩn bị tinh thần tích cực, kết quả bạn đạt được cũng sẽ khả quan hơn.

3. Chuẩn bị đề tài cẩn thận
Thay vì cứ ngồi lo sợ, bạn hãy tập trung sự chú ý vào đề tài sắp trình bày. Hãy nghĩ rằng bạn sẽ nói những điều thật hay và khán giả sẽ rất thích. Nếu có thể, hãy chọn một chủ đề mà bạn thích và hiểu rõ. Ngay cả những bảng số liệu khô khan cũng sẽ trở nên sống động hơn nếu bạn biết ***g vào đó những câu nói vui hoặc một câu châm ngôn nào đó. Khi bạn thật sự yêu thích những gì mình nói, khán giả sẽ cũng sẽ cảm nhận được điều này.

4. Hít thở
Khi bạn lo lắng, các cơ ngực và cổ họng thường thắt lại và khiến giọng nói của bạn bị “biến dạng”. Hãy hít thở sâu để tập trung đầu óc và giữ cho tinh thần bình tĩnh.

5. Luyện tập và luyện tập
Bạn không thể tự tin nói năng lưu loát trước nhiều người nếu bạn không luyện tập. Rất ít người có khả năng thuyết trình bẩm sinh. Những diễn giả nổi tiếng đều đã từng lo sợ như bạn nhưng họ đã vượt qua nhờ chăm chỉ tập luyện. Bạn có thể bắt đầu bằng việc tham gia vào các lớp giao tiếp, qua đó, bạn sẽ dần thấy thoải mái khi nói chuyện với nhiều người.

Cuối cùng, hãy nghỉ ngơi đầy đủ, tránh các chất gây kích thích như cà phê, rượu, thuốc lá, v.v và dành chút thời gian chăm chút cho diện mạo của mình. Nếu trước giờ thuyết trình bạn vẫn thấy lo lắng, hãy nhớ một điều: Bạn sẽ thành công nếu bạn tập trung tinh thần vào thành công bạn mong muốn, thay vì cứ chăm chăm nghĩ về những gì khiến bạn lo sợ.

CÁCH VIẾT BÁO CÁO MÔN HÓA HỌC


Báo cáo thí nghiệm là một phần rất quan trọng trong quá trình làm thí nghiệm. Nếu bạn đã có sẵn một mẫu báo cáo được giáo viên hướng dẫn yêu cầu thì hãy dùng nó. Nếu không, bạn có thể tham khảo cách viết báo cáo khoa học sau đây.

Một báo cáo thí nghiệm là phần ghi chép những gì bạn làm được, học được và giải thích kết quả tìm được.

[Image: 20095211132241088924_annual_report_2.jpg]1- Trang mở đầu

Không phải báo cáo khoa học nào cũng đòi hỏi một trang mở đầu, nhưng nếu được yêu cầu, thì đây là những gì bạn viết trên trang mở đầu:

• Tiêu đề cho thí nghiệm của bạn: đó là mục tiêu trong thí nghiệm của bạn, ngắn gọn nhất có thể và thể hiện hết điểm chính của toàn bộ thí nghiệm.

• Tên của bạn và nhóm làm việc

• Tên của giáo viên hướng dẫn

• Ngày tháng mà thí nghiệm được thực hiện và báo cáo được hoàn tất

2- Phần giới thiệu

Gói gọn trong một đoạn văn, quan trọng là nói rõ mục đích thí nghiệm của bạn. Trong phần này, bạn có thể trình bày 1-2 dòng về giả thiết mà bạn và nhóm đặt ra. Đôi khi phần giới thiệu bao gồm thông tin kiến thức cơ bản hoặc nói ngắn gọn về cách mà thí nghiệm được thực hiện…

3- Vật liệu và phương tiện cần thiết cho thí nghiệm

Liệt kê toàn bộ những gì bạn cần để hoàn thành thí nghiệm. Hóa chất (tên, xuất xứ, nồng độ ban đầu…), dụng cụ thí nghiệm (tên, xuất xứ…), máy móc đo đạt (tên, loại máy, xuất xứ, dung môi dùng để chạy mẫu, nhiệt độ…), v.v…

4- Quá trình làm thí nghiệm

Mô tả chi tiết từng bước trong quá trình thí nghiệm. Viết chi tiết và chính xác để người sau có thể tham khảo hoặc thực hiện theo bạn để ứng dụng vào một nghiên cứu khác. Cần kèm theo bảng biểu số liệu và đồ thị.

5- Số liệu

Cung cấp đầy đủ đố liệu chính xác từng bước của thí nghiệm.

6- Kết quả

Giải thích ý nghĩ của các số liệu thu được. Có thể kèm theo ý kiến thảo luận

7- Thảo luận và phân tích vấn đề

Nếu phần số liệu chỉ bao gồm các số liệu thu được, thì phần này sẽ bao gồm các công thức tính toán áp dụng trên số liệu đó. Đây là phần bạn giải thích số liệu và so sánh với lý thuyết. Trình bày và thảo luận về sai phạm trong thí nghiệm và giá trị mà nghiên cứu đem lại.

8- Kết luận

Thông thường trong một đoạn văn. Trình bày giả thiết ban đầu có được chấp nhận hay không và khẳng định giá trị mà nghiên cứu đem lại.

9- Tài liệu

Liệt kê các loại tài liệu mà bạn tham khảo, tên tác giả, thời gian đăng, tạp chí/trang web …

Sakura

 

CHỈ TIÊU TUYỂN SINH DỰ KIẾN CỦA MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC


Tính đến thời điểm này, nhiều trường đại học, cao đẳng trên cả nước đã gửi thông tin chỉ tiêu dự kiến năm 2011 về Bộ GD&ĐT.

Theo đó, chỉ tiêu tuyển sinh của nhiều trường ĐH phía Bắc vẫn tiếp tục giữ số lượng như năm trước để đảm bảo chất lượng. Tuy nhiên, cá biệt có trường đề nghị Bộ GD&ĐT tăng lên khoảng 20% chỉ tiêu, trong khi đó Bộ quy định các trường chỉ được tăng chỉ tiêu mức cao nhất là 7%.

STT Cơ sở đào tạo Chỉ tiêu 2011 Ghi chú
Các trường khu vực phía Bắc ĐH
1 ĐH Quốc gia Hà Nội 5.500
ĐH Khoa học Tự nhiên 1.310
ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn 1.400
ĐH Công nghệ 560
ĐH Ngoại ngữ 1.200
ĐH Kinh tế 430
ĐH Giáo dục 300
Khoa Luật 300
2 ĐH Kinh tế Quốc dân 4.000 Đã bao gồm chỉ tiêu đào tạo theo địa chỉ.
3 ĐH Bách Khoa Hà Nội 4.800 – 5.000 800 Chỉ tiêu dự kiến
4 ĐH Sư phạm Hà Nội 2.500 60
5 ĐH Y Hà Nội 1.000
200 – 300 Chỉ tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội và địa chỉ
6 ĐH Thương mại Hà Nội 3.950
7 ĐH Luật Hà Nội 1.926 Chỉ tiêu dự kiến
8 ĐH Xây dựng Hà Nội 2.800 Chỉ tiêu dự kiến
9 ĐH Thuỷ lợi Hà Nội 2.600 300 Chỉ tiêu dự kiến
10 ĐH Ngoại thương Hà Nội

(Trường cũng đang đề xuất đào tạo vài trăm chỉ tiêu theo địa chỉ của các doanh nghiệp và các địa phương)

3.000 300
300 Chỉ tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội
11 ĐH Giao thông Vận tải Hà Nội 4.800 4.500 chỉ tiêu cho các hệ khác
12 ĐH Mỏ – Địa chất 3.165 500 Chỉ tiêu dự kiến
13 ĐH Công đoàn 2.000 Chỉ tiêu dự kiến
14 ĐH Lao động – Xã hội 1.500 500
15 ĐH Công nghiệp Hà Nội 4.500 4.500 Hệ trung cấp chuyên nghiệp: 2.500
16 ĐH Điện lực 1.800 Tăng 20% so với 2010
17 ĐH Lâm nghiệp 1.900 Tăng 18% so với 2010
18 ĐH Hà Nội 1.800
19 Học viện Tài chính 3.800 Tăng 7% so với 2010
20 Học viện Ngân hàng 2.300 1050
21 Học viện Bưu chính Viễn thông

(cơ sở phía Bắc)

1350 500 Trường vẫn sẽ có các chỉ tiêu đào tạo theo nhu cầu xã hội.
22 Học viện Bưu chính Viễn thông

(cơ sở phía Nam)

650 150
23 Học viên Báo chí và Tuyên truyền 1.550 Chỉ tiêu Văn bằng 2: 200
24 Học viện Quản lý giáo dục 850
25 Viện ĐH Mở Hà Nội 3.000 600 Các hệ khác: 3.000

Hệ từ xa: 12.000

26 Đại học Hùng Vương – Phú Thọ 1.100 300
27 ĐH Kỹ thuật Y tế Hải Dương 1.150
28 ĐH Hải Phòng 3.100
29 ĐH Hàng hải 3.100 Đào tạo theo chương trình tiên tiến: 50 chỉ tiêu.
30 Trường ĐH Công nghiệp Quảng Ninh 1.100 1.100
31 Đại học Điều dưỡng NamĐịnh 1.400
32 ĐH Hà Tĩnh 900 760 Hệ trung cấp: 700
Các trường đại học phía Nam
33 ĐH Đà Nẵng
ĐH Bách Khoa 3.260
ĐH Kinh tế 2.250
ĐH Ngoại ngữ 1.430
ĐH Sư phạm 1.600
ĐH Đà Nẵng (phân hiệu tại Kom Tum) 510
CĐ Công nghệ 1.500
CĐ Công nghệ thông tin 600
34 ĐH Quốc gia TP.HCM
ĐH Bách Khoa 3.950
ĐH Khoa học tự nhiên 2.750
35 ĐH Kinh tế TP.HCM 4.500
36 ĐH Luật TPHCM 1.870
37 ĐH Giao thông vận tải TP.HCM 2.250 400
38 ĐH Ngoại ngữ
Sư phạm tiếng Anh 100
Sư phạm tiếng Anh bậc tiểu học 70
Sư phạm tiếng Pháp 35
Sư phạm tiếng Trung 35
Cử nhân tiếng Nga 35
Cử nhân tiếng Pháp 35
Cử nhân tiếng Pháp du lịch 35
Cử nhân tiếng Trung thương mại 35
Cử nhân tiếng Thái Lan 35
Cử nhân tiếng Anh 435
Cử nhân tiếng Anh thương mại 195
Cử nhân tiếng Trung 80
Cử nhân tiếng Nhật 100
Cử nhân tiếng Hàn 70
Cử nhân quốc tế học 135
39 ĐH Sư phạm TP.HCM 1.600
Phân hiệu tại Kon Tum 510
40 ĐH Sư phạm kỹ thuật TP.HCM 3.850 300
41 ĐH Cần Thơ 6.500 Chỉ tiêu đào tạo tại tỉnh Hậu Giang: 500
42 ĐH An Giang 2.690 690 Hệ TCCN: 690
43 ĐH Đồng Tháp 3.000 1.200 Hệ TCCN: 600

 

Anh Thi

 

KÍ HIỆU TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM


Khi làm việc trong phòng thí nghiệm chúng ta thường xuyên phải tiếp xúc với các loại hóa chất. Việc hiểu biết các tính chất của từng loại hóa chất là điều cần thiết. Bên cạnh đó, mỗi loại hóa chất đều có các ký hiệu vật tư dán kèm trên nhãn hoặc vỏ chai, lọ, vì thế việc tìm hiểu các ký hiệu này để biết thêm thông tin về hóa chất, vật tư sử dụng là điều không thừa.

Nhóm các ký hiệu chú ý, cần thận trọng, thường có hình tam giác màu vàng

A_chem1

A_chem2

A_chem3

A_chem3

Ngoài ra còn có các ký hiệu chỉ dẫn về mức độ an toàn, độc hại của mỗi loại hóa chất

Hiện có hai loại ký hiệu quy định độ an toàn hóa chất. Một của Hiệp hội An toàn cháy nổ Mỹ (National Fire Protection Association-NFPA) và một của Châu Âu.

Ký hiệu của NFPA-704: Gồm một hình thoi lớn được chia thành 4 hình thoi nhỏ với 4 màu khác nhau gồm đỏ, xanh dương, vàng, và trắng  được đánh số từ 0-4 với mức độ nguy hại tăng dần (0 không nguy hại, 4 nguy hại nhất).

- Màu đỏ: Chỉ khả năng bắt lửa được đánh số từ 0-4 (0: không cháy; 4: dễ bắt lửa khi để ngoài không khí)

- Màu xanh: Chỉ mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe được đánh số từ 0-4 (0: không độc hại, 4: rất nguy hiểm)

- Màu vàng: Chỉ độ hoạt động được đánh số từ 0-4 (như khả năng nổ, ăn mòn…)

- Màu trắng: Thông tin đặc biệt về độ nguy hại được đánh số từ 0-4 (0: bền, không phản ứng với nước; 4: phân hủy mạnh)

Với ký hiệu W: Chỉ các chất phản ứng mạnh với nước như H2SO4, Natri, Xesi…

Ký hiệu OX: Chỉ các chất oxi hóa mạnh như Kali perchlorate, ammoni nitrate, hydro peroxit

Ký hiệu NFPA-704

Ký hiệu của Châu Âu: Gồm hình chữ nhật màu da cam được chia thành hai hình nhỏ, hình trên chỉ mức độ nguy hại được đánh số theo lớp từ 1-9, ô dưới chỉ số hiệu của hóa chất.

Số 1: Chỉ các chất nổ

Số 2: Chỉ các chất khí

Số 3: Chỉ các chất lỏng dễ cháy

Số 4.1: Chất rắn dễ cháy, chất tự phản ứng và chất nổ rắn

Số 4.2: Chất  tự bốc cháy

Số 4.3: Chất khi tiếp xúc với nước phát ra khí dễ cháy

Số 5.1: Chất ôxi hoá

Số 5.2: Các peroxit hữu cơ

Số 6.1: Chất độc

Số 6.2: Chất lây nhiễm

Số 7: Vật liệu phóng xạ

Số 8: Chất ăn mòn

Số 9: Các chất và sản phẩm nguy hiểm khác

Ngoài ra còn có một loạt các ký hiêu khác dạng hình thoi để chỉ mức độ nguy hiểm của từng loại hóa chất được  minh họa bằng chữ và đánh kèm theo số chỉ mức độ nguy hại.

 

Khoáng Chất Trong Cơ Thể


Nguyễn Ý Đức
 

Những bài cùng tác giả

 

Trên truyền thanh truyền hình, ta thường thấy các nhà sản xuất quảng cáo là các món điểm tâm cereal của họ đã được tăng cường đầy đủ các sinh tố, khoáng chất mà cơ thể cần. Rồi những nước uống thể thao (sports drinks) cũng khoe là chứa nhiều sinh tố khoáng chất có thể giúp vận động viên biểu diễn bền bỉ, mạnh mẽ hơn.

Vậy thì các chất này là gì mà được nhấn mạnh như vậy. Chắc là quý độc giả đã quá quen thuộc với sinh tố rồi, cho nên trong bài viết sau đây, xin nói về Khoáng Chất Trong Cơ Thể.

 

Trước hết, cần lưu ý sự khác biệt giữa khoáng chất (minerals) và sinh tố (vitamin), ít nhất là ở hai điểm:

-Vitamin là những chất hữu cơ có phân tử carbon do cây cỏ và động vật tạo ra còn khoáng chất là các chất vô cơ không có carbon.

-Cơ thể có thể tạo ra một vài loại sinh tố nhưng không sản xuất được một khoáng chất nào.

Khoáng chất rất cần thiết cho sự hấp thụ các loại vitamin. Dù rất quan trọng nhưng vitamin sẽ trở thành vô dụng nếu không có sự hỗ trợ của khoáng chất.

 

Khoáng chất không phải chỉ có trong thực phẩm mà còn thấy trong đất như là sắt, kẽm…Cây cỏ kết hợp khoáng từ đất vào các tế bào của chúng. Do đó, trái cây, các loại rau, hạt là nguồn cung cấp khoáng chất rất phong phú..

Vì là chất vô cơ, cho nên khoáng chất có sức chịu đựng với nhiệt độ cao và vẫn hiện diện trong thực phẩm hoặc tế bào bị đốt cháy.

Khoáng chất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển bình thường của cơ thể và cần phải được cung cấp đầy đủ từ thức ăn mà ta tiêu thụ mỗi ngày.

Tất cả các loại tế bào và dung dịch chất lỏng trong cơ thể đều chứa một số nhiều ít khoáng chất khác nhau. Khoáng chất là thành phần cấu tạo của xương, răng, tế bào mềm, cơ bắp, máu, tế bào thần kinh. Nói chung, khoáng có vai trò quan trọng duy trì tốt tình tạng tinh thần cũng như thể chất của cơ thể.

Phân loại

Về phương diện dinh dưỡng, khoáng chất được chia ra làm hai nhóm, căn cứ theo nhu cầu của cơ thể:

-Vĩ khoáng (macromineral) hay khoáng chất đa lượng, là những chất mà cơ thể cần đến với lượng khá lớn, mỗi ngày có thể trên 250 mg. Đó là calci, phospho, sulfur, magnesium và ba chất điện phân natri, chlor và kali.

-Vi khoáng (micromineral) hay khoáng chất vi lượng tuy rất cần thiết nhưng nhu cầu không nhiều, mỗi ngày chỉ cần dưới 20 mg. Như là sắt, đồng, bạc, kẽm, crôm, magan, selen, cobalt, fluor, silic, molybden, boron…

 

Khoáng chất được ruột non hấp thụ từ thực phẩm, rồi dự trữ và lưu truyền trong máu, trong các loại tế bào. Phần không dùng đến sẽ được nước tiểu loại ra ngoài.

Khi số lượng khoáng chất mang vào cơ thể quá cao và được giữ lại quá lâu thì chúng có thể gây ra một số tác hại.

Vai trò của khoáng chất

Nói chung, vai trò của khoáng chất như sau:

-Cần cho sự tăng trưởng và sự vững chắc của xương;

-Điều hòa hệ thống tim mạch, tiêu hóa và các phản ứng hóa học;

-Để làm chất xúc tác chế biến diếu tố ( enzyme);

-Là thành phần của chất đạm, chất béo trong các mô, tế bào;

-Có tác dụng phối hợp với các sinh tố, kích thích tố trong các chức năng của cơ thể;

-Giữ thăng bằng các thể dịch lỏng trong cơ thể.

 

Công dụng của khoáng chất đã được người đời xưa biết tới và dùng để trị bệnh, mặc dù họ không giải thích được tại sao.

Trước Công nguyên, các thầy thuốc Trung Hoa đã khuyên bệnh nhân bướu cổ ăn rong biển (seaweed) có chứa iod. Các vị lương y Hy Lạp cho bệnh nhân thiếu máu uống nước nhúng sắt nung.

Kết quả nghiên cứu của khoa học hiện nay đã tìm ra và chứng minh được vai trò của khoáng chất. Ngoài công dụng dinh dưỡng, mỗi khoáng còn có một vai trò khác nữa trong cơ thể.

Gần đây nhiều thí nghiệm cho thấy có mối liên hệ giữa khoáng chất và các bệnh kinh niên như bệnh cao huyết áp, bệnh giòn xương, bệnh tim mạch, thậm chí cả bệnh ung thư. Do đó nhiều người đã vội vã đi mua khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ (food supplement) để uống. Họ tin tưởng rằng khoáng chất có thể chữa hết các chứng bệnh đó.

Trong thực tế, cơ thể không cần khoáng chất dưới dạng thực phẩm phụ và cũng không cần khoáng chất với liều lượng quá lớn (megadose). Sự tác động qua lại trong cơ thể của khoáng chất, sinh tố, các chất dinh dưỡng và nhiều chất khác, rất là phức tạp. Cho nên một lượng lớn của bất cứ một thành phần nào cũng đều gây ra sự mất cân bằng và cản trở hấp thụ bình thường các chất dinh dưỡng.

Hậu quả thiếu khoáng chất

Khi thiếu khoáng chất, một số bệnh có thể xẩy ra, như là:

-Gia tăng khả năng mắc các bệnh cảm cúm, nhiễm trùng

-Cao huyết áp

-Trầm cảm, lo âu

-Không tăng trưởng hoặc xương yếu

-Đau nhức bắp thịt, khớp xương

-Rối loạn tiêu hóa như ợ chua, táo bón, buồn nôn.

Nhu cầu hàng ngày

Tại Hoa Kỳ, viện Hàn Lâm Khoa Học Quốc Gia khuyến cáo chỉ nên giữ mức tiêu thụ bảy khoáng chất hằng ngày như sau đối với những người tuổi cao :

Calci (Ca) 800 mg

Phospho (P) 800 mg

Magnesium (Mg) 350 mg

Sắt (Fe) 10 mg

Kẽm (zinc) 15 mg

Iod (I) 150 mcg

Selen (Se) 70 mcg.

 

Với các khoáng chất khác, viện này chỉ đưa ra những ước lượng về mức an toàn cho cơ thể với số lượng được hấp thụ.

Cách tốt nhất để có một lượng vừa phải các khoáng cần thiết là cân đối bữa ăn với nhiều loại thực phẩm có đầy đủ chất dinh dưỡng.

Vài khoáng chất căn bản

Trong cơ thể có trên 60 loại khoáng chất nhưng chỉ có 20 loại được xem là cần thiết. Khoáng chất chỉ chiếm 4 % trọng lượng cơ thể.

Sau đây là một số khoáng chất quan trọng:

1.Calci

Calci đặc biệt có nhiều trong sữa và các phó sản như pho mát, sữa chua. Cho tới tuổi 20, xương có thể hấp thụ và dự trữ cần thiết cho sự tăng trưởng cơ thể và duy trì các chức năng khác. Sau đó thì cơ thể dùng nhiều calci hơn để xương cứng chắc. Do đó, nếu ta không tiêu thụ đầy đủ calci, xương sẽ bị rỗng loãng, dễ gẫy cũng như rụng răng.

2.Phospho

Phopho cần thiết để duy trì tốt sự tiêu hóa, tuần hoàn, nuôi dưỡng tế bào thần kinh, mắt, cơ bắp, não bộ.

Phospho có nhiều trong các thực phẩm như sữa, thịt cá, cám, ngô bắp…

Thiếu phopho sẽ gây ra một số rối loạn như xương ròn dễ gẫy, răng lung lay, đau nhức cơ bắp…

3.Sắt

Sắt cần thiết để giúp máu chuyên chở và phân phối dưỡng khí tới khắp các bộ phận của cơ thể.

Thiếu sắt đưa tới kém tăng trưởng, tóc và móng tay móng chân ròn, thiếu hồng cầu, thiếu máu.

Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng …

4.Magnesium

Magnesium là một trong những khoáng chất mà cơ thể cần. May mắn là khoáng này hiện diện trong nhiều loại thực phẩm như trái cây, sữa, pho mát.

Thiếu Mg có thể làm cho cơ bắp đau nhức, rối loạn tim và huyết áp.

5.Iodine

Iodine có trong muối được tăng cường i-ốt ( iodized salt), hải sản, rau spinach, rong biển.

Mặc dù cơ thể chỉ cần số lượng rất ít, nhưng khi thiếu iod sẽ đưa tới rối loạn tăng trưởng cả thể chất lẫn tinh thần cũng như tuyến giáp (thyroid).

6.Kẽm

Kẽm có vai trò quan trọng trong việc tạo ra tính miễn dịch mạnh cho cơ thể để chống lại với cảm lạnh, cúm. Thiếu kẽm cũng gây ra bệnh ngoài da, vết thương chậm lành.

Nguồn cung cấp chính của kẽm là hải sản như sò hến, thịt, gan, trứng, sữa, mầm lúa mạch.

7.Selenium

Selenium là một chất chống oxi- hóa giúp cơ thể ngăn chặn được ung thư, trì hoãn sự hóa già và các bệnh thoái hóa. Selen rất cần thiết cho hệ thống miễn nhiễm và sự hoạt động của cơ tim, giúp cân bằng kích thích tố và tạo ra chất prostaglandin, làm da và tóc khỏe mạnh.

Selenium có nhiều trong cá, sò hến, thịt, ngũ cốc, trứng, tỏi và gan, cật. Rau và trái cây có rất ít selenium.

Kết Luận

Khoáng chất là những phần tử cần thiết cho các chức năng của cơ thể, từ hệ thần kinh cơ bắp tới điều hòa tiêu hóa hấp thụ chất dinh dưỡng, duy trì cân bằng chất lỏng trong và ngoài tế bào. Mặc dù cơ thể chỉ cần một số lượng khiêm tốn, nhưng thiếu chúng là cơ thể trở nên suy yếu, kém hoạt động.

Vậy thì ta nên tiêu thụ đầy đủ các chất này, có sẵn trong thực phẩm mà tạo hóa đã dành cho con người.

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức M.D.

Texas- Hoa Kỳ

 

%d bloggers like this: